In Her Mind's Eye

Trong Mắt Nàng

Month: March, 2014

Supposedly

On the wish-book of years passed
many childhood’s fairies came to sleep
the lone wooden stool by the window
sat many dreams before they went away

A sudden rain, a fleeting doorframe
a flickering face vanishing without a trace
many trains arriving to the station many ships returning to shore
but coming to me only you had not

Many roads you’d been on, many faces you’d met
many friends you’d shared a laugh with
many other cities you’d stepped your feet on
many bustling sunsets printed in your eyes
maybe you’d found shelter in the rain with me at a crossroad
you walked pass the stairs without a care you might even sing out loud
there were times you got sick yet I knew not
you lived under a roof in the same city with me
yet we had met not even once
you knew not of my suffering my sorrow
my waiting my yearning
in retrospect I’m still mad with you much
do you know of those long years
I was like the guy
in the old song
searching for you wandering the rivers
“one letter I’m expecting
two letters I’m awaiting
three four letters I’m longing
why still don’t I see you”

Now we belong together
for the rest of time
Even all the loving can never be nearly enough
how could I blame you
but you oughta know
we were supposed to be in love a long long time ago.

-lqv

http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=11143

Advertisements

Lean In – Introduction

DẤN THÂN

– Sheryl Sandberg –

(dịch: Hiền Nga; hiệu đính: Huyền My)

 .

 .

 .

CHƯƠNG GIỚI THIỆU: TỰ THÂN CÁCH MẠNG

 

 

Tôi mang bầu đứa con đầu lòng vào mùa hè năm 2004. Lúc ấy tôi đang quản lý bộ phận điều hành và bán hàng trực tuyến tại Google. Tôi gia nhập Google ba năm rưỡi trước đó, khi nó còn là một công ty khởi nghiệp không tiếng tăm và chỉ có vài trăm nhân viên làm việc trong một văn phòng xập xệ. Khi tôi mang bầu tháng thứ ba, Google đã có tới hàng ngàn nhân viên và chuyển đến một khuôn viên mới khang trang.

Thời gian tôi bầu bí quả là không dễ dàng gì. Trong khi các bà bầu khác chỉ nghén có ba tháng đầu, tôi ngày nào cũng nghén lên nghén xuống suốt chín tháng trời. Tôi lên gần 32kg, chân sưng to, tăng đến hai cỡ giày. Hai bàn chân trông như hai cục dị dạng tôi chỉ nhìn thấy được mỗi khi gác chúng lên bàn. Một kỹ sư Google hết sức ý nhị đã tuyên bố “Dự án Cá voi” được đặt tên như vậy để vinh danh tôi.

Một hôm, sau cả buổi sáng mắc kẹt trong nhà vệ sinh, tôi phải vội đến một cuộc họp quan trọng với khách hàng. Google phát triển quá nhanh, không đủ chỗ đậu xe cho nhân viên, và tôi chỉ thấy một chỗ trống duy nhất cách khá xa. Đỗ xe xong, tôi lao đến văn phòng, mà thực ra cũng chỉ là ì ạch lết đi nhanh hơn tốc độ siêu chậm thường ngày. Càng chạy tôi càng thấy buồn nôn. Lúc đến nơi, tôi thầm cầu nguyện thứ duy nhất đi ra từ miệng tôi lúc ấy sẽ chỉ là kế hoạch bán hàng. Đêm hôm đó, tôi kể lại những rắc rối trong ngày với anh Dave chồng tôi. Anh ấy bảo ở Yahoo, nơi anh còn làm việc vào thời điểm đó, công ty đã dành riêng một khu vực đậu xe ở trước mỗi tòa nhà cho phụ nữ có thai.

Ngày hôm sau, tôi hùng dũng bước vào – hay đúng hơn là lạch bạch bước vào – gặp hai sáng lập viên của Google, Larry Page và Sergey Brin. Văn phòng của họ thực chất là một căn phòng lớn đầy đồ chơi và đồ công nghệ rơi vãi khắp nơi. Sergey đang thực hiện một tư thế yoga trong góc phòng khi tôi tuyên bố chúng ta cần chỗ đỗ xe dành riêng cho bà bầu càng sớm càng tốt. Sergey ngước lên nhìn tôi và lập tức đồng ý. Cậu ấy chưa từng nghĩ về việc này bao giờ.

Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn còn xấu hổ vì đã không nhận ra rằng cần có chỗ đỗ xe riêng dành cho phụ nữ có thai cho đến khi chính đôi chân mình đau nhức. Là một trong những nữ lãnh đạo ở vị trí cao nhất trong Google, chẳng phải tôi có trách nhiệm nghĩ đến những thứ như thế ư? Nhưng cũng như Sergey, tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc này. Những bà bầu khác hẳn là đã phải chịu đựng trong im lặng, cố không đòi hỏi sự săn sóc đặc biệt nào. Hoặc có thể họ không có đủ tự tin hay thâm niên trong công ty để yêu cầu cấp trên giải quyết vấn đề. Việc có một bà mẹ mang thai ở cấp lãnh đạo – dù là một người trông giống cá voi – đã khiến tình hình thay đổi.

Ngày nay, ở Mỹ và các nước phát triển khác, đời sống của phụ nữ đã khá hơn trước đây rất nhiều. Chúng ta đứng trên vai những chị em đi trước, những người phụ nữ đấu tranh cho những quyền mà bây giờ chúng ta coi là hiển nhiên phải có. Năm 1947, nhà kinh tế học Anita Summers, mẹ của Larry Summers, người đã cố vấn cho tôi trong nhiều năm, được tuyển vào làm cho công ty Standard Oil. Khi bà nhận công việc này, sếp mới đã nói với bà rằng, “Tôi rất vui vì đã tìm được cô. Cô nhận lương ít hơn mà đầu óc không thua kém gì đàn ông”. Anita lúc đó tự hào vì điều này. Được công nhận trí tuệ của mình tương đương đàn ông quả là một lời ngợi khen to lớn. Bà còn chẳng nghĩ đến việc đòi hỏi được trả lương công bằng.

Chúng ta càng cảm thấy biết ơn hơn khi so sánh cuộc sống của mình với thực trạng của phụ nữ các nước khác. Nữ giới nhiều nơi vẫn còn bị tước mất những quyền công dân cơ bản nhất. Trên khắp thế giới, có 4.4 triệu phụ nữ và trẻ em gái còn mắc kẹt trong vấn nạn mại dâm và buôn người. Ở những nơi như Afghanistan và Sudan, các bé gái không được đến trường, vợ bị đối xử như vật sở hữu của chồng, và khi phụ nữ bị hãm hiếp, họ thường xuyên bị đuổi ra khỏi nhà vì tội đã làm nhục gia đình. Có những nạn nhân hãm hiếp còn bị bỏ tù với tội danh “suy đồi đạo đức.” Chúng ta đi trước hàng thế kỷ những đất nước còn miệt thị phụ nữ đến mức không thể chấp nhận được như thế này.

Mặc dù hoàn cảnh cuộc sống của mình còn khá hơn nhiều người khác, điều đó không có nghĩa là chúng ta không cố gắng cải thiện tình trạng hiện tại. Khi người ta xuống đường đấu tranh vì quyền bầu cử của phụ nữ những năm cuối thế kỷ 19 và 20, họ hình dung ra một thế giới nơi mà đàn ông và phụ nữ thực sự bình đẳng. Một thế kỷ trôi qua, và chúng ta vẫn còn mỏi mắt cố tìm ra con đường đến viễn cảnh ấy.

Phải thẳng thắn thừa nhận một sự thật phũ phàng là thế giới này vẫn do đàn ông kiểm soát. Trong 195 quốc gia độc lập, chỉ 17 nước có nhà lãnh đạo nữ. Phụ nữ chỉ giữ 20% số ghế trong các quốc hội trên toàn thế giới.4 Ở Hoa Kỳ, nơi chúng ta tự hào về truyền thống tự do và công bằng cho tất cả mọi người, vấn đề cân bằng giới trong các vị trí lãnh đạo cũng chẳng khá hơn gì. Từ những năm đầu thập niên 80, nữ giới đã chiếm 50% số cử nhân tốt nghiệp đại học. Kể từ đó, phụ nữ đã dần dần từng bước tiến lên tốt nghiệp đại học nhiều hơn nữa, dễ xin việc hơn sau khi ra trường, và tiến vào những lĩnh vực trước đây chỉ dành cho nam giới. Dù đã đạt được những thành quả như vậy, tỷ lệ phụ nữ ở những vị trí cao trong các tập đoàn lớn gần như không suy chuyển trong suốt hơn một thập kỷ qua. Trong số 500 doanh nghiệp lớn nhất Hoa Kỳ, chỉ có vỏn vẹn 21 doanh nghiệp do phụ nữ giữ chức CEO. Nữ giới chỉ nắm khoảng 14% các vị trí điều hành trong doanh nghiệp, 17% số ghế trong hội đồng quản trị, và 18% số ghế quốc hội. Sự cách biệt còn lớn hơn nữa đối với phụ nữ da màu. Họ chỉ chiếm 4% các vị trí cao nhất trong doanh nghiệp, 3% hội đồng quản trị, và 5% số ghế trong nghị viện. Mặc dù phụ nữ tiếp tục vượt mặt nam giới trong thành tích học tập, chúng ta không còn đạt được tiến bộ thực sự ở các vị trí cao trong bất cứ ngành nào. Điều này có nghĩa là khi chúng ta ra những quyết định ảnh hưởng lớn nhất tới thế giới này thì tiếng nói của phụ nữ không được ghi nhận ngang bằng với nam giới.

Nữ giới còn đạt được những tiến bộ chậm chạp hơn trong vấn đề lương bổng. Năm 1970, phụ nữ Mỹ chỉ được trả 59 xu trong khi đồng nghiệp nam của họ nhận được 1 đô-la cho công việc tương tự. Tới năm 2010, phụ nữ đã phản đối, đấu tranh, và làm việc cật lực để nâng mức lương của mình lên 77 xu so với 1 đô-la của nam giới. Nhà hoạt động xã hội Marlo Thomas đã đùa trong Ngày Bình Đẳng Lương (Equal Pay Day) năm 2011, “40 năm và 18 xu. Giá của một tá trứng gà đã tăng cả chục lần số tiền đó.”

Tôi đã tận mắt thấm thía tất cả những sự việc đáng buồn này trong chính cuộc đời mình. Tôi tốt nghiệp đại học năm 1991 và thạc sĩ quản trị kinh doanh năm 1995. Sau mỗi lần tốt nghiệp, tôi nhận thấy tỉ lệ số đồng nghiệp nam và nữ ở bậc “lính mới” như tôi khá cân bằng. Trong khi đó, các vị trí lãnh đạo cấp cao thì hầu hết là nam giới. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ điều này là di chứng của những phân biệt đối xử đối với nữ giới từ trước vẫn còn rơi rớt. “Tấm trần thủy tinh” đã bắt đầu nứt ở gần như mọi lĩnh vực, và tôi đã tin rằng chỉ cần kiên nhẫn chờ thêm một thời gian nữa cho đến khi thế hệ của tôi có thể giành lại một phần tương xứng các vị trí lãnh đạo. Thế nhưng với mỗi năm qua đi, số đồng nghiệp nữ của tôi ngày càng ít. Tôi càng ngày càng nhận ra mình thường xuyên là người phụ nữ duy nhất trong phòng họp.

Là người phụ nữ duy nhất, tôi đã gặp nhiều tình huống khó xử, nhưng cũng giúp tôi hiểu được nhiều điều. Hai năm sau khi tôi gia nhập Facebook ở vị trí giám đốc điều hành (Chief Operating Officer – COO), giám đốc tài chính của chúng tôi đột ngột ra đi, và tôi phải tạm thời thế vào vị trí này để hoàn thành một đợt gây quỹ. Suốt cả sự nghiệp của mình tôi chỉ làm công tác điều hành và chưa bao giờ làm tài chính. Vì thế nên quy trình huy động vốn quả là mới mẻ đối với tôi, và có đôi chút đáng sợ. Nhóm của tôi bay tới New York để chào hàng với các quỹ đầu tư tư nhân. Cuộc họp đầu tiên diễn ra trong một kiểu văn phòng công ty đặc trưng mà bạn thường thấy trong các bộ phim, với toàn cảnh khu Manhattan trườn mình ngoài cửa sổ. Tôi bắt đầu trình bày tổng quát về công ty của chúng tôi và trả lời câu hỏi của đối tác. Chưa có vấn đề gì. Thế rồi có ai đó đề nghị chúng tôi nghỉ giải lao vài phút. Tôi quay về phía đối tác cao cấp của mình và hỏi phòng vệ sinh nữ ở đâu. Anh ta ngây ra nhìn tôi chằm chằm. Câu hỏi của tôi đã hoàn toàn khiến anh ta bối rối. Tôi hỏi, “Anh làm việc ở văn phòng này bao lâu rồi?” Và anh ta trả lời, “Một năm.” “Tôi có phải là đối tác nữ đầu tiên đến đây trong suốt một năm qua không?” “Tôi nghĩ thế,” anh ta nói, thêm vào, “hoặc cũng có thể chị là người phụ nữ đầu tiên cần đi vệ sinh.”

Đã hơn hai thập kỷ trôi qua kể từ khi tôi bắt đầu đi làm, và quá nhiều thứ vẫn chẳng hề thay đổi. Đã đến lúc chúng ta phải đối diện với sự thật là cuộc cách mạng của chúng ta đã bị trì lại. Hứa hẹn bình đẳng không phải là bình đẳng thực sự.

Một thế giới thực sự bình đẳng phải là một nơi mà phụ nữ lãnh đạo một nửa số quốc gia và doanh nghiệp, và đàn ông cáng đáng một nửa việc nhà. Tôi tin nó sẽ là một thế giới tốt hơn bây giờ. Các quy luật kinh tế và rất nhiều nghiên cứu về đa dạng văn hóa đã chỉ ra rằng nếu chúng ta sử dụng toàn bộ nguồn nhân lực và tài năng sẵn có, năng suất chung sẽ được cải thiện. Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett đã từng nói rằng một trong những lý do cho thành công to lớn của ông ấy là ông ấy chỉ phải cạnh tranh với một nửa dân số. Những Warren Buffett của thế hệ tôi vẫn còn phần nhiều được hưởng lợi từ việc này. Khi có nhiều người hơn tham gia vào cuộc đua, nhiều kỷ lục sẽ bị phá, và những thành tựu đạt được sẽ vượt ra bên ngoài những cá nhân ấy để tất cả chúng ta đều được hưởng lợi.

Đêm trước hôm Leymah Gbowee thắng giải Nobel Hòa Bình năm 2011 vì những nỗ lực lãnh đạo cuộc đấu tranh của phụ nữ Liberia lật đổ lãnh chúa độc tài Charles Taylor, chúng tôi đã tổ chức một buổi tiệc ra mắt sách cho chị ấy. Chúng tôi ăn mừng cuốn tự truyện Mighty Be Our Powers (Vĩ Đại Sức Mạnh Của Chúng Ta) của chị đã được xuất bản, nhưng buổi tối hôm ấy thật trầm mặc. Một vị khách hỏi chị phụ nữ Mỹ có thể giúp gì được những người phải trải qua những tội ác kinh hoàng của chiến tranh ở những nơi như Liberia. Chị trả lời ngắn gọn: “More women in power” – nhiều phụ nữ nắm quyền hơn. Leymah và tôi đến từ hai hoàn cảnh không thể khác nhau hơn, thế nhưng chúng tôi đã đi đến cùng một kết luận. Cuộc sống của tất cả phụ nữ sẽ được cải thiện khi có nhiều hơn nữa phụ nữ ở các vị trí lãnh đạo lên tiếng mạnh mẽ về nhu cầu và những mối quan tâm của họ.

Điều này đặt ra một câu hỏi hiển nhiên: làm thế nào? Làm thế nào để chúng ta phá bỏ các rào cản cản đường nhiều phụ nữ hơn nữa leo lên các vị trí lãnh đạo? Phụ nữ phải đối mặt những trở ngại thực tế trong môi trường công sở, từ sự kì thị giới tính ngang nhiên lẫn tinh vi, phân biệt đối xử, và quấy rối tình dục. Có quá ít tổ chức cho phép nhân viên làm việc linh hoạt, nghỉ phép chăm sóc con hay cung cấp dịch vụ trông trẻ, trong khi đấy là những hỗ trợ cần thiết để phụ nữ có thể vừa theo đuổi sự nghiệp vừa nuôi dạy con cái. Đàn ông có thể dễ dàng tìm kiếm người cố vấn và bảo trợ cho mình – là chìa khoá vô giá trong việc thăng tiến sự nghiệp. Thêm vào đó, phụ nữ còn phải nỗ lực chứng tỏ bản thân nhiều hơn hẳn nam giới. Không phải chúng tôi tự tưởng tượng ra như thế. Một báo cáo năm 2011 của McKinsey chỉ ra rằng nam giới được cất nhắc dựa trên tiềm năng của họ, còn phụ nữ thăng tiến dựa trên những thành tích đã đạt được.

Bên cạnh những rào cản bên ngoài do xã hội dựng lên, phụ nữ còn bị cản trở bởi chính những rào cản tồn tại bên trong chính mình. Chúng ta tự kìm chân mình bằng đủ mọi cách cả lớn và nhỏ, bằng sự thiếu tự tin, bằng việc không giơ tay, và bằng cách rút lui khi đáng lẽ chúng ta nên dấn thân. Chúng ta nhập tâm những thông điệp tiêu cực suốt cuộc đời mình—rằng phụ nữ không được to mồm, quyết liệt, quyền lực hơn nam giới. Chúng ta hạ thấp kỳ vọng của chính mình về những gì mình có thể đạt được. Chúng ta tiếp tục làm phần lớn việc nhà và chăm sóc con. Chúng ta thỏa hiệp mục tiêu sự nghiệp của mình vì bạn đời và những đứa trẻ có khi còn chưa tồn tại. So với nam giới, ít có phụ nữ tham vọng leo lên các vị trí cao. Đây không phải là danh sách những điều mà những người phụ nữ khác đã làm. Tôi đã từng phạm phải tất cả những sai lầm trong danh sách này. Và đôi khi, tôi vẫn còn sai lầm như vậy.

Tôi cho rằng muốn tiến lên nhất thiết phải vứt bỏ tất cả những rào cản nội tại này. Nhiều người lập luận rằng phụ nữ chỉ có thể vươn đến vị trí lãnh đạo khi không còn những rào cản mang tính hệ thống. Đây hoàn toàn là một tình huống con gà quả trứng. Một mặt, phụ nữ sẽ phá bỏ những rào cản ngoại sinh sau khi nắm được vai trò lãnh đạo (con gà). Chúng ta sẽ hiên ngang bước vào văn phòng của sếp và yêu cầu những gì mình cần, bao gồm cả chỗ đỗ xe dành riêng cho phụ nữ có thai. Hay tuyệt hơn nữa, chính chúng ta sẽ làm sếp và đảm bảo tất cả phụ nữ sẽ có những gì họ cần. Mặt khác, chúng ta trước hết cần phải xóa bỏ những rào cản ngoại sinh để đưa phụ nữ lên được các vị trí lãnh đạo (quả trứng). Cả hai lập luận đều đúng. Vậy thì thay vì sa đà vào một cuộc tranh luận triết học về cái gì đến trước, chúng ta có thể cùng đồng ý sẽ chiến đấu trên cả hai mặt trận. Cả hai đều quan trọng như nhau. Tôi muốn khuyến khích phụ nữ chú trọng vào việc giải quyết con gà, nhưng tôi cũng hoàn toàn ủng hộ những người đang tập trung vào quả trứng.

Những cản trở nội tại ít khi được nhắc đến và thường bị xem nhẹ. Trong suốt cuộc đời mình, tôi đã nghe rất nhiều về những bất bình đẳng ở công sở và việc khó khăn thế nào để vừa có cả sự nghiệp lẫn gia đình. Tuy nhiên, chẳng mấy khi có ai nói với tôi về những cách mà chính tôi đang tự kìm bước mình. Những cản trở nội tại này cần phải được chú ý nhiều hơn nữa, một phần vì chúng ta có thể kiểm soát chúng. Chúng ta có thể gỡ bỏ những rào cản trong chính mình ngay hôm nay. Chúng ta có thể bắt đầu ngay lúc này.

Tôi chưa bao giờ nghĩ có ngày mình sẽ viết một cuốn sách. Tôi không phải là một học giả, một nhà báo, hay một nhà xã hội học. Nhưng tôi đã quyết định sẽ lên tiếng sau khi trò chuyện với hàng trăm phụ nữ, lắng nghe về cuộc đấu tranh của họ, chia sẻ với họ cuộc đấu tranh của chính mình, và nhận ra những thành quả chúng ta đã đạt được là chưa đủ và thậm chí có thể đang bị tuột mất. Chương thứ nhất trong cuốn sách này đưa ra một vài thách thức phức tạp phụ nữ phải đối mặt. Mỗi chương tiếp theo sẽ tập trung và một sự điều chỉnh hoặc thay đổi chúng ta có thể tự làm được: tự tin hơn (“Ngồi Ngang Hàng”), để bạn đời chia sẻ việc nhà (“Để Bạn Đời Là Đối Tác Bình Đẳng”), không đòi hỏi bản thân phải đạt được những tiêu chuẩn không thể đạt được (“Bí ẩn về người phụ nữ hoàn hảo”). Tôi không giả vờ có được giải pháp hoàn hảo cho những vấn đề sâu xa và phức tạp này. Tôi dựa vào bằng chứng, các con số, nghiên cứu khoa học, quan sát, và những bài học tôi đã gặp trên con đường của mình.

Cuốn sách này không phải là một hồi ký, dù tôi có viết về những câu chuyện trong cuộc đời mình. Đây không phải là một cuốn sách kỹ năng sống, dù tôi thực lòng hy vọng nó sẽ giúp được ai đó tự thay đổi cuộc đời mình. Đây không phải là một cuốn sách về xây dựng sự nghiệp, dù tôi có cho lời khuyên về sự nghiệp. Đây không phải là một bản tuyên ngôn nữ quyền—ừ thì nó cũng gần như là một bản tuyên ngôn nữ quyền, nhưng là một bản mà tôi hy vọng sẽ truyền cảm hứng cho nam giới cũng như nữ giới.

Dù xếp cuốn sách này vào thể loại nào đi nữa, tôi viết nó cho bất kỳ người phụ nữ nào muốn vươn lên đỉnh cao sự nghiệp hoặc quyết liệt theo đuổi bất cứ mục tiêu nào, bao gồm phụ nữ ở mọi vị trí trong cuộc đời và sự nghiệp, từ những người mới bắt đầu cho đến những người đang tạm nghỉ ngơi và có thể muốn trở lại cuộc chơi. Tôi cũng viết cuốn sách này cho những người đàn ông muốn hiểu phụ nữ—đồng nghiệp, vợ, mẹ, hay con gái họ—phải đối mặt với những gì, để rồi họ có thể làm phần việc của mình nhằm xây dựng một thế giới bình đẳng hơn.

Cuốn sách này giải thích vì sao phụ nữ nên dấn thân và tham vọng theo đuổi bất cứ mục tiêu nào. Và dù tôi tin rằng việc tăng số lượng phụ nữ ở các vị trí quyền lực là một yếu tố cần thiết cho bình đẳng thực sự, tôi không cho rằng chỉ có một định nghĩa cho thành công hay hạnh phúc. Không phải mọi phụ nữ đều muốn xây dựng sự nghiệp. Không phải mọi phụ nữ đều muốn lập gia đình. Không phải mọi phụ nữ đều muốn có cả hai. Tôi không bao giờ cho rằng tất cả chúng ta đều nên có cùng mục đích. Rất nhiều người không có hứng thú với việc đạt được quyền lực. Không phải vì họ thiếu tham vọng, mà bởi vì họ đã được sống cuộc sống họ khao khát. Một trong những đóng góp quan trọng nhất cho thế giới này chính là việc chăm sóc được cho từng cá nhân một. Mỗi chúng ta phải tự đề ra con đường cho riêng mình và xác địch những mục tiêu phù hợp với cuộc sống, giá trị, và ước mơ của mình.

Tôi cũng nhận thức được rằng phần lớn phụ nữ là những người đang hàng ngày phải vật lộn bươn chải để kiếm sống và lo cho gia đình. Một phần cuốn sách này sẽ phù hợp hơn cho những người phụ nữ may mắn có được sự lựa chọn làm việc bao nhiêu, khi nào, và ở đâu; một phần khác nói về những tình huống phụ nữ gặp phải nơi công sở, trong cộng đồng, và gia đình. Nếu chúng ta có thể thành công trong việc thêm vào nhiều tiếng nói của nữ giới ở các cấp cao nhất, chúng ta sẽ mở rộng cơ hội cũng như mang đến sự đối xử công bằng hơn cho tất cả.

Có người, đặc biệt là những nữ doanh nhân khác, đã cảnh báo tôi rằng không nên lên tiếng công khai về những vấn đề này. Khi tôi vẫn tiếp tục, một vài nhận xét của tôi đã làm phật ý một số người thuộc cả hai giới. Tôi biết có người cho rằng khi tôi tập trung vào những gì phụ nữ có thể thay đổi ở chính mình—thôi thúc họ dấn thân—có vẻ như tôi đang làm ngơ trách nhiệm của các thể chế và hệ thống xã hội. Hoặc tệ hơn, họ buộc tội tôi đổ lỗi cho nạn nhân. Tôi không hề đổ lỗi cho nạn nhân, mà tôi còn tin rằng các nữ lãnh đạo chính là giải pháp cho vấn đề của chúng ta. Một số nhà phê bình cũng sẽ chỉ ra rằng tôi dấn thân dễ dàng hơn người khác rất nhiều vì nguồn lực tài chính cho phép tôi có được bất cứ sự trợ giúp nào. Ý định của tôi là đưa ra những lời khuyên mà có lẽ đã rất có ích cho chính tôi từ rất lâu trước khi tôi biết đến Google hay Facebook, và sẽ nhận được sự đồng cảm từ phụ nữ trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.

Tôi đã từng nghe những lời chỉ trích này trước đây, và tôi biết tôi sẽ còn nghe thấy chúng—và cả những lời chỉ trích khác—trong tương lai. Tôi hy vọng thông điệp của tôi sẽ được đánh giá dựa trên giá trị của chính nó. Chúng ta không thể lảng tránh chuyện này. Vấn đề này lớn hơn tất cả chúng ta. Chúng ta đã chần chừ quá lâu để bắt đầu khuyến khích nhiều phụ nữ hơn nữa mơ ước một giấc mơ không hề viển vông và khuyến khích nhiều nam giới hơn nữa ủng hộ phụ nữ trong công sở cũng như trong gia đình.

Chúng ta có thể thắp lửa cuộc cách mạng này một lần nữa bằng cách tự thân đấu tranh. Bước chuyển đến một thế giới bình đẳng hơn sẽ diễn ra trong mỗi con người. Chúng ta tiến gần hơn đến mục tiêu bình đẳng thực sự với mỗi người phụ nữ dấn thân.

%d bloggers like this: